Tản mạn câu ca dao Muối mặn – gừng cay

Posted on

Muoi man gung cayLà hình ảnh tượng trưng, thể hiện quan niệm, tình cảm của con người về nhân sinh, vũ trụ, biểu tượng được sử dụng trong văn học khá đa dạng. Riêng ca dao. Nguyễn Xuân Kính đã ghi nhận 7 nhóm biểu tượng: 1. Trăng, sao, mây, gió… (hiện tượng tự nhiên)
2. Có cây, hoa lá… (thế giới thực vật)
3. Rồng phượng, chim muông… (thế giới động vật)
4. Áo, khăn, gương, lược, mũ, giày… (các đồ dùng cá nhân)
5. Chăn, chiếu, giường, mâm, bát… (các dụng cụ sinh hoạt gia đình)
6. Thuyền, lưới, đó, lờ, gàu…các công cụ sản xuất)
7. Nhà, đình, cầu… (các công trình kiến trúc)

Ba nhóm đầu là những biểu tượng thuộc thế giới các hiện tượng thiên nhiên, tự nhiên; bốn nhóm sau là những biểu tượng của thế giới nhân tạo. Sự phân loại trên cho thấy diện mạo phong phú của biểu tượng trong ca dao, và nó có khả năng bao hàm được hầu hết các biểu tượng.

Theo sự tìm hiểu bước đầu của chúng tôi về lĩnh vực này, thì một số biểu tượng kép cũng cần được quan tâm, mà muối mặn – gừng cay là một ví dụ.Bài ca dao xin được trích dẫn ra trước tiên ở đây là bài được nhiều tập sưu tầm ca dao ra đời vào loại sớm nhất cùng giới thiệu, và có lẽ được nhiều người thuộc nhất:

(a1) Tay nâng chén muối, đĩa gừng
Gừng cay muối mặn, xin đừng có quên

Có ba bài ca dao theo thể lục bát khác, có chưa gọn bài này (có đôi chỗ khác biệt), một thuộc “dân ca quan họ Bắc Ninh”:

(a2) Tay tiên chuốc chén rượu đào
Đổ đi thì tiếc uống vào thì say
Tay bưng chén muối, đĩa vừng
Gừng cay muối mặn, xin đừng quên nhau

một thuộc “dân ca Bình Trị Thiên”:

(a3) Tay bưng đĩa muối chấm gừng
Gừng cay muối mặn, xin đừng bỏ nhau
Tay bưng đĩa muối sàng rau
Căn duyên ông trời định, bỏ nhau sao đành.

và một thuộc Quảng Nam – Đà Nẵng:

(a4) Tay bưng đĩa muối chấm gừng
Gừng cay muối mặn, ta biểu đừng tưởng tơ
Gió ngọt ngào nhiều ngọn xơ rơ
Con chim vào lồng thậm khó, con cá vào lờ thậm gay

với thể song thất lục bát, ở Nghệ Tĩnh có bài:

(b1) Muối ba năm muối đang còn mặn
Gừng chín tháng, gừng hãy còn cay
Đôi ta tình nặng nghĩa dày
Có xa nhau đi nữa, ba vạn sáu ngàn ngày mới xa.

ở Bình Trị Thiên có:

(b2) Muối để ba năm muối hãy còn mặn
Gừng ngâm chín tháng gừng hãy còn cay
Đã có lời chàng đó thiếp đây
Can chi lo chuyện đổi thay rứa chàng

(b3) Muối mặn ba năm còn mặn
Gừng cay chín tháng còn cay
Dù ai xuyên tạc lá lay
Sắt son nguyệt giữ lòng này thuỷ chung

(b4) Muối mặn ba năm còn mặn,
Gừng cay chín tháng còn cay
Để anh lên xuống cho dày,
Bao giờ thầy mẹ không gả, em cũng bày mùi cho

(b5) Muối ba năm muối hãy còn mặn
Gừng chín nước gừng hãy còn cay
Nợ nhà giàu có thì trả, không thì vay
Duyên chàng nợ thiếp chớ đổi thay bạn cười

(b6) Muối ba năm muối hãy còn mặn
Gừng chín nước gừng hãy còn cay
Đạo vợ chồng chớ có đổi thay
May thì đặng câu danh vọng, rủi ăn mày cũng theo nhau

ở Quảng Nam – Đà Nẵng có:

(b7) Hạt muối mặn ba năm còn mặn
Lát gừng cay chín tháng còn cay
Hai ta ơn trượng nghĩa dày
Chưa bao năm tháng dứt rày nghĩa nhơn

(b8) Hạt muối ba năm còn mặn
Lát gừng cay sắc chín nước còn cay
Anh thương em cha mẹ không hay
Ngọn đèn trao trước gió, chẳng biết xoay phương nào

Bài (a1) như một lời khấn thầm, không hò (hát) thành lời, hoặc đây chỉ là một hành động tượng trưng mang tính quy ước của một nghi lễ mà ý nghĩa của nó đã được cộng đồng thừa nhận. Hoàng Phủ Ngọc Tường có viết: “Theo phong tục Huế, trong đêm tân hôn, cô dau chú rể làm lễ cúng tớ hồng, lễ vật chỉ có khoai lang, muối và gừng. Đó là lời nguyện lấy cái tâm đẻ sống với nhau trọn đời”. Lễ vật dâng cúng mang tính trần thế, ý nghĩa biểu hiện “cay” và “mặn” là đặc tính của gừng và muối, hai mùi vị cần thiết và khó quên đối với con người. Cần thiết thì ai cũng biết, còn khó quên thì hẳn phải nói vài lời.

Không phải ngẫu nhiên mà các từ có yếu tố “cay” đều có chung nét nghĩa bất ổn, không lành (cay cú, cay cực, cay đắng, cay độc, cay nghiệt, chua cay, sâu cay…), còn các từ có yếu tố “mặn” thì lại thể hiện sự thân thiết, gắn kết (mặn mà, mặn mòi, mặn nồng…). Trong các vị thông thường, thì cay, đắng thuộc dương; mặn, ngọt, chua thuộc âm. “Cay” gây ra bứt rứt, nóng nảy, “cay như hớt”, “cà cuống chết đến đít vẫn còn cay”, quả là khó quên. “Mặn” hầu như không có tác dụng ngay, mà âm ỉ theo thời gian “ăn mặn, khát nước” (đời cha ăn mặn, đời con khát nước) hoặc phải út kinh nghiệm “mặn mất ngon, giận mất khôn”, cũng không phải dễ quên.

Xét mặt “mùi đời”, có thể coi đây là hai “vị chủ”, tiêu biểu cho mặn nồng và cay đắng, hai trạng thái của con người hay hai cách cư xử về một con người. Nhấn mạnh “cay”, “mặn”; hai mặt đối lập của một chỉnh thể (“đĩa muối chấm gừng”) như vậy, cho thấy sự nhìn nhận vấn đề hôn nhân rất khách quan: cay đắng hay mặn nồng là hai trạng thái, tình huống song song tồn tại trong quan hệ vợ chồng, quan hệ giữa người khác với vợ chồng: đó là cuộc đời, là con người, là bình thường. Quả là không có lời thề nào sâu sắc như vậy, vì không thể tìm ra một kẽ hở bào để vin vào khi bội ước, hay muốn giải thể (phải chăng đây là lý do để tạo nên “tình trạng ly hôn có tỷ lệ rất nhỏ trong cộng đồng người Huế”).

Bài (a2) có cặp lục bát đầu với thức uống sang (“rượu đào’), người đẹp (“tay tiên”), trong lúc thái độ của nhân vật lại nước đôi (“đổ đi thì tiếc, uống vào thì say”). Ở bài (a3) cặp câu sau có tác dụng hỗ trợ về nghĩa. Còn với (a4) lại như một sự dặn dò về đạo làm vợ, làm chồng sau khi khẳng định giá trị của “gừng cay, muối mặn”.

Có thể thấy rằng, những bài lục bát này cùng tập trung ý nghĩa như bài (a1) mà chúng ta diễn giải. Tám bài song thất lục bát đều có chung cặp thất, nhằm thể hiện sự lâu bền của đặc tính “mặn”, “cay” ở muối và gừng. Có một lưu ý về cấu trúc, nếu ở bài (a1) cặp lục bát được hình thành theo chén muối, đĩa gừng” – gừng cay muối mặn, thì cặp thất ở loạt bài này đều hình thành kiểu “muối mặn, gừng cay. Đây là lối sắp xếp theo trật tự âm trước, dương sau mà người Việt thường làm (như vợ chồng, chẵn lẻ, vuông tròn, đậm nhạt, đen bạc…).

Con số 3 và 9 (ba năm, chín tháng) cũng thể hiện số nhiều, không hàm nghĩa xá định rõ ràng về lượng, cho nên dù đủ 9 tháng chỉ bằng ¼ của 3 năm, nhưng trong kiểu cấu trúc này, năm/tháng không còn là đơn vị thời gian cụ thể nữa (chú ý sự tương ứng của “chín tháng” và “chín nước”, “sáu nước”, nên cảm giác về sự vĩnh cửu, hằng tồn đã xảy ra. Và tên của biểu tượng đang bàn, đến đây cũng được xác lập “muối mặn – gừng cay”.

Lại cần nói thêm là sự hằng tồn mùi vị của muối và gừng, nếu tách ra đứng độc lập, chúng chưa tạo được ý nghĩa gì cụ thể; việc cần có một cặp lục bát để nêu rõ ý nghĩa trong trường hợp này là tất nhiên. Nhưng trong không ít dạng bài ấy, việc bổ nghĩa kia vẫn chưa ổn thỏa lắm. Cơ sở để dân gian sáng tạo ra những lời hò (hát) tự nhiên mà không hề có cảm giác bất ổn như vừa nêu, chính là tiền giả định: không ai là không biết đến bài (a1) và nghĩa của muối mặn – gừng cay là sự thề ước thuỷ chung. Theo đó, thì bài (b1) thể hiện trọn vẹn ý nghĩa trên, hai bài (b2 và b3) cũng vậy. bài (b4) thêm ý, đã nguyện ước trăm năm bên nhau, miễn là anh đừng có xao nhăng (“lên xuống cho dày”) thì thầy mẹ không gả, em cũng có cách rồi.

Bài (b5) đặt cuộc tình trong bối cảnh nghèo túng; bài (b6) đặt ra hai tình huống tốt nhất (“đặng câu danh vọng” – có bản ghi “làm nên quốc trạng”) và xấy nhất (“ăn mày”) mà con người có thể đạt đến hay vập phải vẫn giữ trọn lời nguyền. Bài (b7) là lời trách cứ (trên cơ sở lời nguyền) với kẻ vong tình; và (b8) là một cuộc tình ở ngoài tầm kiểm soát của cha mẹ, chưa tìm ra hướng giải quyết.

Trên cơ sở tài liệu mà chúng tôi có được, có thể nêu địa bàn lưu truyền, phát triển của bài (a1) là cả nước; các bài theo thể song thất lục bát có từ Nghệ Tĩnh đến Quảng Nam – Đà Nẵng, tập trung nhiều ở Bình Trị Thiên. Dải đất miền Trung này đã chuyển thể từ lục bát sang song thất lục bát với những sáng tạo, gia cố có tính chất làm sáng rõ vấn đề khi đặt trong những tình huống, hoàn cảnh cụ thể khác nhau của (a1) mà vẫn tuân thủ ý nghĩa đã có của biểu tượng.

Một hình ảnh được coi là biểu tượng trong văn chương khi nó luôn cố định về nghĩa trước mỗi lần xuất hiện, mỗi tác giả sử dụng trong bối cảnh thời gian, không gian nhất định. Ngoài ra, nếu một biểu tượng gồm hai (ba) hình ảnh ghép lại – biểu tượng kép – thì nó phải ổn định về cấu trúc (yêu cầu tự thân của biểu đạt). Biểu tượng muối mặn – gừng cay, qua phân tích trên, thoả mãn hai điều kiện ấy. Đây là mộtk biểu tượng kép. Tính chất kép của biểu tượng này, còn được thể hiện khá rõ khi tách riêng hai hình ảnh muối và gừng; lúc này mỗi hình ảnh có nghĩa biểu vật và theo ngữ cảnh riêng, không mang nét nghĩa của biểu tượng, ví dụ:

– Muối để ba năm không thiu
Bình vôi để hở thì mèo không ăn

– Cực lòng mà phải theo anh
Khoai lang chấm muối ngon lành gì đâu

– Gừng già, gừng rụi, gừng cay
Anh hùng càng cực càng dày nghĩa nhân

Trong ca dao, muối mặn – gừng cay, còn một số biểu hiện kép khác (như mai – trúc) với ý nghĩa tượng trưng cho đôi bạn trẻ, cho ‘tình duyên”, cần được xác định, tìm hiểu kỹ. Bởi việc nắm bắt các biểu tượng sẽ giúp ích rất nhiều cho vấn đề nhận dạng, phân tích nghĩa, xếp kiểu loại các bài ca dao một cách đúng đắn, là một trong số những điều kiện cơ bản giúp viẹc nhìn nhận ca dao trong hệ thống, từ hệ thống, tránh được những suy diễn lạc lõng, chủ quan.

Ths. Triều Nguyên, Hội VNDG Thừa Thiên – Huế

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s